KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ

Sự kiện truyền thông

INOMAR – Hoạt động Kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam

Để kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ, trung tâm INOMAR rất vui mừng được chia sẻ những tiến bộ và hoạt động mới nhất trong quá trình không ngừng theo đuổi sự đổi mới và sáng tạo trong nghiên cứu khoa học và công nghệ. Ngày đặc biệt này, nhằm tôn vinh những …

INOMAR – Hoạt động Kỷ niệm Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam Read More »

Lễ treo biển Phòng thí nghiệm liên kết quốc tế về Kỹ thuật Địa chất và Môi trường giữa Viện Môi trường và Tài nguyên, ĐHQG-HCM và Viện Lực học và Khoa học Công trình, Đại học Thượng Hải

Ngày 02 tháng 04 năm 2024, Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Bến Tre đã phối hợp với Viện Môi trường và Tài nguyên tổ chức buổi Hội thảo Tổng kết đề tài với chủ đề “Đánh giá khả năng sức chịu tải của kênh, rạch, mương trong chăn nuôi heo tại huyện Mỏ Cày Nam. Các mô hình ngăn ngừa giảm thiểu ô nhiễm trong chăn nuôi heo”.

Trường Đại học An Giang: Nghiệm thu đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường về lĩnh vực Chăn nuôi

Vừa qua, Trường Đại học An Giang, ĐHQG-HCM đã tổ chức Hội đồng nghiệm thu đề tài cấp trường “Ảnh hưởng sự phối hợp các nguồn carbohydrate vào khẩu phần lên khả năng tiêu hóa dưỡng chất của dê lai Saanen”.

Đề tài do TS Nguyễn Bình Trường – Giảng viên Bộ môn Chăn nuôi – Thú y, Khoa Nông nghiệp – Tài nguyên thiên nhiên làm chủ nhiệm.

Mục tiêu của đề tài là xác định ảnh hưởng các nguồn carbohydrate đến lượng thức ăn tiêu thụ, tiêu hóa dưỡng chất và tích lũy nitơ của dê lai Saanen.

Nghiên cứu đã sử dụng các nguồn thức ăn được nghiền mịn là Bắp (Ma), Gạo vỡ (Br), Bánh khoai mì (Ca) và Lúa mì (Wh). Tỷ lệ kết hợp (% khối lượng khô tiêu thụ) giữa hai nguồn thức ăn cung cấp năng lượng là 15% và 15% như MaCa, MaWh, BrCa và BrWh.

Kết quả cho thấy lượng thức ăn khô tiêu thụ trên cân nặng của các liệu pháp BrWh (3.42%) và BrCa (3.40%) có xu hướng cao hơn so với các liệu pháp MaCa (3.29%) và MaWh (3.08%). Khả năng tiêu hóa chất hữu cơ (%) của BrCa không khác biệt (P>0.05) so với MaWh và BrWh nhưng cao hơn (P<0.05) so với MaCa (76.0, 74.9, 74.0 và 71.2, tương ứng). Tuy nhiên, sự giữ lại nitơ (g/động vật/ngày) khác nhau (P<0.05) giữa các liệu pháp. Nó là 8.84, 7.56, 6.87 và 6.62 g tương ứng với các liệu pháp BrWh, BrCa, MaCa và MaWh. Tóm lại, dê lai được nuôi bằng tổ hợp thức ăn năng lượng có lượng ăn vào, khả năng giữ nitơ và tăng khối lượng hằng ngày tốt từ cao đến thấp BrWh, BrCa, MaCa và MaWh.

Theo Hội đồng, kết quả của đề tài có đóng góp thiết thực cho ngành chăn nuôi dê lai An Giang và làm nền tảng để tiếp tục nghiên cứu các nhân tố lên men cho sự kết hợp này nhằm nâng cao mức dưỡng chất khẩu phần phù hợp trên từng giai đoạn sinh lý phát triển của dê lai. Mặt khác, đề tài này cũng là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo.

Đề tài đạt 83.8/100 điểm, đạt loại Khá. Hội đồng cũng yêu cầu các tác giả hoàn thiện báo cáo theo góp ý, để sớm triển khai ứng dụng rộng rãi kết quả đề tài trong thực tiễn.

Về việc báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2023, 06 tháng đầu năm 2024

Thực hiện Công văn số 630/BKHCN-KHTC ngày 01 tháng 3 năm 2024 của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) về việc hướng dẫn xây dựng kế hoạch khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo (KH, CN và ĐMST) và dự toán ngân sách KH&CN năm 2025

Scroll to Top