Lịch họp Hội đồng nghiệm thu đề tài/ đề án KH&CN cấp ĐHQG-HCM tháng 1/2026 – Trường Đại học Kinh tế – Luật

STT

Đề tài

1

Nghiệm thu đề tài khoa học và công nghệ cấp Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) với thông tin cụ thể như sau:

Tên đề tài: Vai trò của phát triển con người và chất lượng thể chế trong phát triển tài chính”

Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Thị Ánh Như

Đơn vị: Trường Đại học Kinh tế – Luật

Mã số: B2024-34-05

Địa điểm: Trường Đại học Kinh tế – Luật

Quyết định nghiệm thu số …../QĐ-ĐHQG ngày ….. /…../2026 của Giám đốc ĐHQG-HCM;

Chủ tịch Hội đồng: 

Tóm tắt Đề tài

Nghiên cứu này với mong muốn khám phá vai trò phát triển con người (human development) và chất lượng thể chế (institutional quality) trong phát triển tài chính (financial development). Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng mở rộng khám phá tác động tương tác của phát triển con người và chất lượng thể chế đến phát triển tài chính. Phát triển tài chính trong nghiên cứu được tiếp cận ở 2 khía cạnh là định chế tài chính và thị trường tài chính. Đề tài nghiên cứu nhóm quốc gia có thu nhập trung bình trong đó có Việt Nam với hai bộ dữ liệu: (i) bộ dữ liệu bảng của nhóm quốc gia thu nhập trung bình trong giai đoạn từ 2004 đến 2022, và (ii) bộ dữ liệu chuỗi thời gian của Việt Nam trong giai đoạn 1996 đến 2022.

Kết quả nghiên cứu từ bộ dữ liệu các quốc gia thu nhập trung bình được áp dụng mô hình hồi qui GMM cho thấy phát triển con người và chất lượng thể chế có tác động tích cực đến phát triển các định chế tài chính. Đối với phát triển thị trường tài chính thì chất lượng chế vẫn thể hiện tác động tích cực khẳng định vai trò then chốt của chất lượng thể chế trong việc thúc đẩy sự vận hành hiệu quả của phát triển thị trường tài chính. Tuy nhiên, phát triển con người lại cho thấy tác động hạn chế, ngược chiều đối với sự phát triển thị trường tài chính. Khi mở rộng nghiên cứu khám phá tác động tương tác giữa phát triển con người và chất lượng thể chế đến phát triển tài chính, sự kết hợp này cho kết quả khuếch đại tác động tích cực phát triển con người đến phát triển tài chính.

Đối với bộ dữ liệu của Việt Nam áp dụng mô hình hồi qui ARDL, kết quả cho thấy có sự tương đồng với kết quả được tìm thấy ở nhóm các quốc gia có thu nhập trung bình trong ngắn hạn. Cụ thể, cả phát triển con người và chất lượng thể chế có tác động tích cực đến phát triển tài chính trong ngắn hạn. Đối với mối quan hệ trong dài hạn, trong khi chất lượng thể chế vẫn đóng vai trò thúc đẩy phát triển tài chính, thì yếu tố phát triển con người chưa tìm thấy bằng chứng có tác động đến phát triển tài chính.

Từ các kết quả này, nghiên cứu đề xuất Việt Nam và nhóm các quốc gia thu nhập trung bình cần chú trọng đến các yếu tố về thể chế và phát triển con người trong việc hoạch định các chính sách vĩ mô nhằm tạo điều kiện cho sự phát triển tài chính.

2

Nghiệm thu đề tài khoa học và công nghệ cấp Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐHQG-HCM) với thông tin cụ thể như sau:

Tên đề tài: “Các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) của các doanh nghiệp tại Việt Nam”

Chủ nhiệm đề tài: TS Hồ Xuân Thủy

Đơn vị: Trường Đại học Kinh tế – Luật

Mã số: C2023-34-01

Địa điểm: Trường Đại học Kinh tế – Luật

Quyết định nghiệm thu số …../QĐ-ĐHQG ngày ….. /…../2026 của Giám đốc ĐHQG-HCM;

Chủ tịch Hội đồng: 

Tóm tắt Đề tài

Trong bối cảnh BTC triển khai lộ trình áp dụng IFRS, việc đánh giá mức độ sẵn sàng và các yếu tố ảnh hưởng trở nên cần thiết. Nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố tác động đến mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS của DN Việt Nam, đồng thời hoàn thiện thang đo và đề xuất hàm ý chính sách hỗ trợ triển khai hiệu quả.

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hỗn hợp gồm hai giai đoạn. Giai đoạn định tính áp dụng “Grounded Theory”, phỏng vấn bán cấu trúc các chuyên gia kế toán – kiểm toán để điều chỉnh thang đo và nhận diện yếu tố ảnh hưởng. Giai đoạn định lượng khảo sát DN, sử dụng mô hình hồi quy và các kiểm định Cronbach’s Alpha, EFA, PLS-SEM để đo lường mức độ tác động.

Kết quả cho thấy mức độ sẵn sàng áp dụng IFRS của DN tại VN còn thấp, chủ yếu tập trung vào khía cạnh kỹ thuật hơn là chiến lược dài hạn. Bốn cấu phần chính gồm: (1) thay đổi hệ thống thông tin và quy trình kế toán; (2) đánh giá tác động kế toán; (3) năng lực chuyên môn IFRS của kế toán; và (4) nhận thức về tác động tổng thể. Năm yếu tố tác động tích cực là quy mô DN, niêm yết, kiểm toán Big4, sở hữu nước ngoài và hoạt động xuất khẩu; trong khi sở hữu nhà nước có tác động ngược chiều.

Về lý thuyết, nghiên cứu mở rộng ứng dụng Lý thuyết thể chế, đại diện và tín hiệu trong bối cảnh kinh tế chuyển đổi, làm rõ vai trò của áp lực thể chế và đặc điểm tổ chức đối với sự sẵn sàng cải cách kế toán. Về thực tiễn, kết quả giúp cơ quan quản lý nhận diện nhóm DN cần ưu tiên hỗ trợ và đề xuất giải pháp về đào tạo, truyền thông, chính sách khuyến khích nhằm nâng cao năng lực tiếp cận IFRS, góp phần tăng tính minh bạch và hội nhập quốc tế.

Trường Đại học Kinh tế- Luật, ĐHQG-HCM

Lên đầu trang