Nghiệm thu đề tài cấp ĐHQG loại C tại Viện MT&TN: Nâng cao hiệu quả sản xuất rau màu trên đất phèn nhiễm mặn bằng các vật liệu thân thiện môi trường
1. | Tên đề tài: | Nâng cao hiệu quả sản xuất rau màu trên đất phèn nhiễm mặn bằng các vật liệu thân thiện môi trường | ||||||||
2. | Mã số | C2024-24-05 | ||||||||
3. | Chủ nhiệm đề tài | ThS. Nguyễn Tân Xuân Tùng | ||||||||
4. | Đơn vị: | Viện Môi trường và Tài nguyên, ĐHQG-HCM | ||||||||
5. | Lĩnh vực: | Khoa học Trái đất và Môi trường | ||||||||
6. | Loại hình: | Nghiên cứu cơ bản | ||||||||
7. | Thời gian thực hiện: | 01/2024 – 05/2026 | ||||||||
8. | Kinh phí nghiên cứu: | 200 triệu đồng | ||||||||
9 | Thời gian nghiệm thu | Ngày 02 tháng 6 năm 2026 | ||||||||
10 | Chủ tịch Hội đồng và quyết định thành lập HĐ | GS.TS. Lê Thanh Hải (Viện Môi trường và Tài nguyên, Đại học Quốc gia TP.HCM) theo Quyết định 452/QĐ-ĐHQG ngày 24/04/2025 của Giám đốc ĐHQG-HCM | ||||||||
11. | Nội dung thực hiện (chi tiết theo nội dung thực hiện/đăng ký; không quá 800 từ) | Nội dung 1: Thiết lập thí nghiệm quy mô thực địa. Ở nội dung này, nhóm nghiên cứu bố trí 01 thí nghiệm với quy mô thực địa nhằm đánh giá hiệu quả của các vật liệu thân thiện môi trường trong việc cải tạo đất phèn nhiễm mặn ở ngoài tự nhiên, sinh trưởng và năng suất rau màu. Các vật liệu cải tạo được sử dụng trong các thí nghiệm này bao gồm than sinh học (than trấu), vôi và phân bò. Đề tài đã lựa chọn đối tượng rau màu là cây Cải Thìa. Nội dung 2: Đánh giá hiệu quả của các vật liệu cải tạo đến các yếu tố hạn chế của đất phèn nhiễm mặn và sinh trưởng, năng suất cây Cải Thìa sau thí nghiệm. | ||||||||
12. | Kết quả | * Sản phẩm mềm: 01 báo cáo tổng hợp, 02 báo cáo chuyên đề, 01 bài báo quốc tế. * Sản phẩm cứng: Không. * Sản phẩm đào tạo và khoa học: Bài báo quốc tế: · Đào tạo: Đào tạo thành công một học viên cao học tên Hồ Thị Hoàng Kiều, ngành Kỹ thuật Môi trường tại Viện Môi trường và Tài nguyên. Bằng Thạc sĩ Kỹ thuật Môi trường, số hiệu QH112202400052 do Viện Môi trường và Tài nguyên – Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/01/2026 theo hướng nghiên cứu của đề tài. | ||||||||
13. | Hình ảnh giới thiệu kết quả (1-2 hình tiêu biểu) | Địa điểm nghiên cứu: (10.380791°N, 106.773088°E) thuộc xã Kiểng Phước, huyện Gò Công Đông, tỉnh Tiền Giang (nay là tỉnh Đồng Tháp).
Trong nghiên cứu này, chỉ số chất lượng đất (Soil quality index – SQI) được tính toán từ 17 thông số hóa học của đất sau quá trình thí nghiệm, nhằm đánh giá xu hướng biến đổi tổng thể của đất dưới ảnh hưởng của các biện pháp cải tạo như than trấu, vôi, phân bò đơn lẻ cũng như sự kết hợp giữa than trấu với các vật liệu này (Hình 1). Kết quả nghiên cứu cho thấy, đất có sử dụng than trấu đơn lẻ, than trấu kết hợp với vôi hoặc than trấu kết hợp với phân bò đều có chỉ số SQI tổng thể cao hơn đáng kể so với đất không sử dụng than trấu hay chỉ sử dụng riêng lẻ vôi hoặc phân bò ở cả hai vụ thí nghiệm. Đặc biệt, CT5 sử dụng than trấu kết hợp với vôi đạt giá trị SQI cao nhất, phản ánh hiệu quả vượt trội của sự kết hợp này trong việc cải thiện chất lượng đất. Ngược lại, CT1 không sử dụng than trấu cũng như bất kỳ vật liệu cải tạo nào có chỉ số SQI thấp nhất, cho thấy đất không được cải tạo kém hiệu quả trong việc duy trì độ phì nhiêu và hạn chế tác động tiêu cực của môi trường. Những phát hiện này khẳng định vai trò quan trọng của than trấu trong việc cải thiện đặc tính đất phèn nhiễm mặn, đặc biệt khi kết hợp với vôi, giúp nâng cao chất lượng đất một cách bền vững.
Hình 1. SQI sau thí nghiệm bị ảnh hưởng bởi các vật liệu Chất lượng đất phèn nhiễm mặn có thể được phân loại thành bốn nhóm đặc trưng, bao gồm tính chua, tính mặn, tính độc và tính dinh dưỡng. Chỉ số chất lượng đất (SQI) của từng nhóm này được thể hiện trong Hình 2, cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các công thức xử lý trong nghiên cứu. Tính chua (pH đất, hàm lượng SO42-, độ chua trao đổi và H+): Công thức sử dụng than trấu kết hợp với vôi (CT5) mang lại hiệu quả cải thiện tính chua tốt nhất, với chỉ số SQI cao nhất ở cả hai vụ và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê so với các công thức khác. Tính mặn (EC, Cl– và Na): Tác động của các công thức xử lý đối với tính mặn có sự khác biệt giữa hai vụ thí nghiệm. Ở vụ 1, công thức sử dụng than trấu kết hợp với phân bò (CT6) giúp cải thiện chỉ số SQI tính mặn tốt nhất, trong khi ở vụ 2, công thức chỉ sử dụng vôi đơn lẻ (CT2) cho kết quả cao nhất. Tính độc (hàm lượng Al, Fe, Mn trao đổi): Các nguyên tố kim loại như Al, Fe và Mn trong đất phèn có thể gây độc cho cây trồng nếu không được kiểm soát. Công thức sử dụng than trấu kết hợp với vôi (CT5) giúp giảm đáng kể các kim loại trao đổi này, đạt chỉ số SQI cao nhất trong nhóm tính độc. Kế đến là công thức sử dụng than trấu đơn lẻ (CT4), tiếp theo là công thức chỉ sử dụng vôi đơn lẻ (CT2) ở cả hai vụ. Tính dinh dưỡng (bao gồm 7 thông số dinh dưỡng đất): Việc cải thiện khả năng cung cấp dinh dưỡng của đất thể hiện rõ nét qua chỉ số SQI. Công thức sử dụng than trấu kết hợp với phân bò (CT6) đạt giá trị SQI cao nhất, cho thấy sự kết hợp này giúp gia tăng khả năng giữ và cung cấp dinh dưỡng hiệu quả nhất. Ngược lại, công thức không sử dụng than trấu cũng như bất kỳ vật liệu cải tạo nào (CT1) có chỉ số SQI thấp nhất, phản ánh sự suy giảm đáng kể về độ phì nhiêu của đất khi không có biện pháp cải tạo thích hợp.
Hình 2. Chỉ số chất lượng đất tính axit (a), tính mặn (b), tính độc (c) và tính dinh dưỡng (d) sau thí nghiệm bị ảnh hưởng bởi các vật liệu Hình 3 thể hiện mối tương quan giữa bốn chỉ số chất lượng đất thành phần (SQI) với tổng sinh khối Cải Thìa. Kết quả cho thấy, trong bốn nhóm chỉ số SQI, tính dinh dưỡng có mối quan hệ mật thiết nhất với tổng sinh khối Cải Thìa, thể hiện qua hệ số quyết định (r2) giữa tổng sinh khối và SQI tính dinh dưỡng. Khi chỉ số SQI dinh dưỡng tăng, tổng sinh khối Cải Thìa cũng tăng một cách có ý nghĩa thống kê. Cụ thể, phần trăm đóng góp của SQI dinh dưỡng vào tổng sinh khối đạt 32,05% ở vụ 1 và 27,77% ở vụ 2, vượt trội hơn so với các chỉ số SQI tính chua, tính mặn và tính độc. Điều này phản ánh rằng tính dinh dưỡng là yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của Cải Thìa trên đất phèn nhiễm mặn.
Hình 3. Sự tương quan giữa chỉ số chất lượng đất tính axit (a), tính mặn (b), tính độc (c) và tính dinh dưỡng (d) với tổng sinh khối Cải Thìa sau thí nghiệm bị ảnh hưởng bởi các vật liệu | ||||||||
14. | Thông tin liên hệ CNĐT | Email: xuantung@hcmier.edu.vn; Điện thoại: 0356678777 | ||||||||
15. | Liên hệ ĐHQG-HCM | Ban Khoa học và Công nghệ (Phòng 309, NĐH) và Trang điện tử thông tin về hoạt động KH&CN (https://research.vnuhcm.edu.vn/) |
Viện Môi trường và Tài nguyên, ĐHQG-HCM
Ngày 21 tháng 07 năm 2024










