Lịch họp Hội đồng nghiệm thu đề tài/ đề án KH&CN cấp ĐHQG-HCM tháng 7/2026 – Trường Đại học Kinh tế – Luật
| STT | Đề tài |
| 1 | Tên đề tài: “Vốn xã hội, hiệu quả tài chính và hành vi chấp nhận rủi ro của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Hoàng Anh Đơn vị: Trường Đại học Kinh tế – Luật Mã số: C2024-34-03 Địa điểm: Trường Đại học Kinh tế – Luật Quyết định nghiệm thu số …../QĐ-ĐHQG ngày ….. /…../2026 của Giám đốc ĐHQG-HCM; Chủ tịch Hội đồng: Tóm tắt Đề tài Phần lớn các nghiên cứu về vốn xã hội doanh nghiệp hiện có tập trung vào thị trường phát triển, sử dụng thước đo đơn chiều và ít phân tích động thái tác động qua các giai đoạn kinh tế khác nhau. Nghiên cứu này xây dựng Chỉ số Vốn xã hội Doanh nghiệp (FSC) như một cấu trúc hình thành bốn chiều, tích hợp đồng thời công bố trách nhiệm xã hội (SC1), mạng lưới CEO theo cách tiếp cận tiểu sử (SC2), kết nối chính trị qua tỷ lệ sở hữu nhà nước (SC3) và kết nối ngân hàng (SC4). Dữ liệu bảng gồm 2.013 quan sát từ 338 công ty phi tài chính niêm yết trên HOSE giai đoạn 2019–2024, bao phủ ba giai đoạn: tiền khủng hoảng (2019), khủng hoảng COVID-19 (2020–2021) và phục hồi (2022–2024). Tác động lên hiệu quả tài chính được ước lượng bằng Pooled OLS với tác động cố định ngành, năm và biến tương tác theo giai đoạn; tác động lên hành vi chấp nhận rủi ro được ước lượng bằng mô hình tác động cố định hai chiều (TWFE). Về hiệu quả tài chính, FSC có tác động dương đến ROA và Tobin’s Q trong điều kiện bình thường, trong đó SC2 là thành phần tạo giá trị mạnh và nhất quán nhất. Trong khủng hoảng COVID-19, SC1 và SC2 duy trì tác động bảo vệ thông qua cơ chế neo đậu (anchor) dựa trên lòng tin và thông tin, trong khi SC3 và SC4 bị chiết khấu mạnh do năng lực đối tác thể chế bị thu hẹp. Trong giai đoạn phục hồi, SC2 cho thấy tác động cao hơn so với tiền khủng hoảng đối với Tobin’s Q, gợi ý mạng lưới CEO chuyển từ vai trò phòng thủ sang tăng tốc chiến lược. Về hành vi chấp nhận rủi ro, FSC đồng thời có tác động âm lên biến động lợi nhuận hoạt động và tác động dương lên nắm giữ tiền mặt và đòn bẩy tài chính, phản ánh bản chất kép của vốn xã hội. Ở cấp độ thành phần, SC1 ổn định hóa thu nhập qua kênh lòng tin; SC2 tạo sự kiện thông tin thị trường và thúc đẩy dự trữ tiền mặt phòng ngừa; SC3 ổn định thu nhập và tích lũy tiền mặt như vùng đệm thể chế (institutional buffer); SC4 kích hoạt đầu tư dài hạn qua kênh tín dụng ngân hàng. Nghiên cứu đóng góp thước đo FSC đa chiều phù hợp với thị trường mới nổi, khung lý thuyết “neo đậu linh hoạt” (flexible anchor) thay thế quan điểm “tấm khiên đồng nhất” (uniform shield), và bằng chứng về sự phân kỳ giữa vốn xã hội dựa trên lòng tin và vốn xã hội dựa trên đặc quyền thể chế trong điều kiện khủng hoảng hệ thống. Từ khóa: Vốn xã hội doanh nghiệp, hiệu quả tài chính, hành vi chấp nhận rủi ro, khả năng kiên cường, COVID-19, thị trường mới nổi, Việt Nam. |
| 2 | Tên đề tài: “Phát triển kinh tế biển thành phố Hồ Chí Minh theo hướng bền vững” Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Đình Bình Đơn vị: Trường Đại học Kinh tế – Luật Mã số: C2024-34-04 Địa điểm: Trường Đại học Kinh tế – Luật Quyết định nghiệm thu số …../QĐ-ĐHQG ngày ….. /…../2026 của Giám đốc ĐHQG-HCM; Chủ tịch Hội đồng: Tóm tắt đề tài Nghiên cứu bắt đầu với việc lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước về phát triển kinh tế biển làm cơ sở xác định được khoảng trống và xác định vấn đề nghiên cứu. Khung lý thuyết về phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững như khái niệm kinh tế biển, phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững, các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững được xây dựng. Trên cơ sở khung lý thuyết, đề tài đã tiến hành phân tích tình hình phát triển kinh tế biển theo hướng bền vững trên ba trụ cột và đã cho thấy vị trí, vai trò của kinh tế biển thành phố Hồ Chí Minh đối với tăng trưởng kinh tế của địa phương. Đến năm 2025, ngành du lịch biển thành phố Hồ Chí Minh đã đón 5.946.720 lượt khách, doanh thu đạt 5381 tỷ đồng; ngành thủy sản đóng góp vào nền kinh tế thành phố 6.866 tỷ đồng; ngành vận tải biển đạt 224.346 tỷ đồng; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa qua các cảng của TP HCM 192 tỷ USD. Số doanh nghiệp đang hoạt động tại khu ven biển thành phố Hồ Chí Minh là 367 doanh nghiệp, với tổng vốn đầu tư 26.570 tỷ đồng, tạo việc làm cho 3256 lao động tại địa phương. Ngành diêm nghiêp đat 193,4 tỷ đồng, góp phần ổn định sinh kế cho ngư dân, đồng thời tạo động lực cho sự phát triển ngành du lịch trải nghiệm. Sự phát triển kinh tế biển đã tác động tích cực đến sinh kế của các nông hộ ven biển thông qua các cơ chế tạo công ăn, việc làm, phát triển các làng nghề tuyền thống, du lịch trải nghiệm, góp phần tạo sinh kế bền vững cho các hộ dân ven biển. Tuy nhiên, phát triển kinh tế biển cũng tạo ra những tác động không nhỏ cho vấn đề môi trường của địa phương trên nhiều phương diện, đòi hỏi Thành phố cần có nhiều chính sách để hoàn thiện hơn trong thời gian tới. Trên cơ sở đối chiếu với thực tiễn quan sát và sự thảo luận với các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, đề tài đã phân tích 7 nhân tố tác động đến phát triển kinh tế biền thành phố Hồ Chí Minh. Phân tích những thời cơ, thách thức trong bối cảnh không gian biển mới sau sáp nhập, để tài để xuất 6 nhóm giải pháp nhằm phát huy những thời cơ, hạn chế thách thức, góp phần thúc đẩy kinh tế biển thành phố Hồ Chí Minh phát triển bền vững. |
| 3 | Tên đề tài: “Từ tố tụng thẩm vấn đến tố tụng tranh tụng – sự phát triển của tố tụng dân sự Việt Nam” Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Nguyễn Thị Hồng Nhung Đơn vị: Trường Đại học Kinh tế – Luật Mã số: C2024-34-01 Địa điểm: Trường Đại học Kinh tế – Luật Quyết định nghiệm thu số …../QĐ-ĐHQG ngày ….. /…../2026 của Giám đốc ĐHQG-HCM; Chủ tịch Hội đồng: Tóm tắt Đề tài Đề tài “Từ tố tụng thẩm vấn đến tố tụng tranh tụng – Sự phát triển của tố tụng dân sự Việt Nam” nghiên cứu quá trình chuyển dịch của tố tụng dân sự Việt Nam từ mô hình thẩm vấn truyền thống sang mô hình tăng cường yếu tố tranh tụng trong bối cảnh cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Trên nền tảng Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đề tài tiếp cận nguyên tắc bảo đảm tranh tụng không chỉ như một kỹ thuật tố tụng, mà còn như điều kiện quan trọng để bảo vệ quyền tự định đoạt của đương sự, bảo đảm xét xử công bằng và thúc đẩy tiếp cận công lý thực chất. Điểm mới của đề tài là phân tích sự phát triển của tố tụng dân sự Việt Nam dưới lăng kính lý thuyết pháp luật nữ quyền. Cách tiếp cận này giúp nhận diện những giới hạn của quan niệm “trung lập về giới” trong pháp luật tố tụng, nhất là trong các tranh chấp hôn nhân gia đình, tài sản, lao động và các quan hệ có sự bất cân xứng về quyền lực kinh tế, xã hội hoặc văn hóa. Đề tài cho rằng bình đẳng hình thức giữa các bên không đủ để bảo đảm công lý nếu thiếu các cơ chế hỗ trợ nhạy cảm giới cho phụ nữ và nhóm yếu thế. Về nội dung, đề tài xây dựng cơ sở lý luận về tố tụng thẩm vấn, tố tụng tranh tụng và lý thuyết pháp luật nữ quyền; phân tích sự phát triển của tố tụng dân sự Việt Nam qua các thời kỳ; đánh giá các quy định hiện hành về chứng minh, cung cấp chứng cứ, tranh luận và vai trò của Thẩm phán; đồng thời khảo cứu kinh nghiệm của Hoa Kỳ, Pháp và Trung Quốc. Trên cơ sở đó, đề tài đề xuất hoàn thiện pháp luật tố tụng dân sự theo hướng nâng cao năng lực nhạy cảm giới cho người tiến hành tố tụng, hoàn thiện trợ giúp pháp lý chuyên biệt, thiết lập cơ chế bảo vệ an toàn trong tố tụng và lồng ghép bình đẳng giới vào hoạt động xây dựng, áp dụng pháp luật. Từ khoá: Tố tụng thẩm vấn, tố tụng tranh tụng, nữ quyền, tố tụng dân sự |
Trường Đại học Kinh tế- Luật, ĐHQG-HCM