Lịch họp Hội đồng đánh giá nghiệm thu đề tài cấp ĐHQG-HCM tháng 3/2026 - Trường Đại học Khoa học Sức khỏe
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIỆM THU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
TT | Đề tài |
1 | Nghiệm thu Đề tài cấp ĐHQG-HCM loại C với thông tin cụ thể như sau: – Tên đề tài: Chất lượng cuộc sống của bệnh nhân nam có quan hệ đồng giới nhiễm HIV đang điều trị ARV do ThS.BS Nguyễn Hồ Hồng Hạnh làm chủ nhiệm. – Đơn vị: Trường Đại học Khoa học Sức khỏe – Mã số đề tài: C2022-44-07 – Thời gian: … (sẽ cập nhật khi có thời gian tổ chức họp nghiệm thu theo Quyết định thành lập Hội đồng nghiệm thu) – Địa điểm: … (sẽ cập nhật khi có thời gian tổ chức họp nghiệm thu) – Quyết định nghiệm thu số: … (sẽ cập nhật khi có Quyết định thành lập Hội đồng nghiệm thu). – Chủ tịch Hội đồng: … (sẽ cập nhật khi có Quyết định thành lập Hội đồng nghiệm thu). Tóm tắt đề tài Với sự phát triển vượt bậc của y học hiện đại, thuốc kháng vi-rút HIV (ARV) đã giúp bệnh nhân nhiễm HIV kiểm soát tốt căn bệnh hiểm nghèo này và kéo dài đáng kể tuổi thọ. Do đó, việc nâng cao chất lượng cuộc sống (CLCS) của bệnh nhân nhiễm HIV đã trở nên ngày càng quan trọng trong xã hội hiện nay. Tại Việt Nam, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) tăng nhanh vào những năm gần đây. Vì vậy, nhóm tác giả tiến hành thực hiện nghiên cứu này nhằm khảo sát điểm số CLCS theo thang điểm của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và đánh giá một số yếu tố liên quan đến CLCS của nhóm đối tượng này. Phương pháp: 199 MSM nhiễm HIV đang điều trị ARV tại phòng khám ngoại trú Glink từ tháng 04/2023 đến tháng 04/2024 đã được tuyển vào nghiên cứu. Các công cụ đo lường bao gồm bảng câu hỏi đánh giá CLCS của WHO bằng thang đo WHOQOL-HIV BREF và bảng câu hỏi thu thập thông tin chung về dân số, xã hội và một số yếu tố liên quan đến tình trạng nhiễm HIV. Kết quả: 89,9% dân số nghiên cứu có CLCS tốt, với điểm trung bình là 3,53 ± 0,71 (thang đo từ 1 đến 5). Điểm trung vị của 6 lĩnh vực CLCS bao gồm sức khỏe thể chất, sức khỏe tinh thần, mức độ độc lập, niềm tin cá nhân, quan hệ xã hội và môi trường lần lượt là 16,0 (IQR: 14,0 – 17,0), 15,2 (IQR: 13,6 – 16,0), 16,0 (IQR: 15,0 – 16,0), 12,0 (IQR: 11,0 – 13,0), 13,5 (IQR: 12,5 – 15,0). Một số yếu tố liên quan đến CLCS bao gồm: nhóm tuổi, thời gian điều trị ARV, các vấn đề tâm lý, v.v. Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho thấy để cải thiện CLCS của nhóm dân số này, cần tập trung nhiều hơn vào việc tăng cường kết nối xã hội, hỗ trợ gia đình và quản lý hiệu quả các vấn đề sức khỏe tâm thần. |
2 | Nghiệm thu Đề tài cấp ĐHQG-HCM loại C với thông tin cụ thể như sau: – Tên đề tài: Nghiên cứu tổng hợp vật liệu nano làm chất dẫn truyền thuốc kháng ung thư do ThS.DS. Huỳnh Linh Tý làm chủ nhiệm. – Đơn vị: Trường Đại học Khoa học Sức khỏe – Mã số đề tài: C2022-44-07 – Thời gian: … (sẽ cập nhật khi có thời gian tổ chức họp nghiệm thu theo Quyết định thành lập Hội đồng nghiệm thu) – Địa điểm: … (sẽ cập nhật khi có thời gian tổ chức họp nghiệm thu) – Quyết định nghiệm thu số: … (sẽ cập nhật khi có Quyết định thành lập Hội đồng nghiệm thu). – Chủ tịch Hội đồng: … (sẽ cập nhật khi có Quyết định thành lập Hội đồng nghiệm thu). Tóm tắt đề tài Trong điều trị ung thư, 5-fluorouracil (5-FU) là hoạt chất quan trọng dùng trong hóa trị liệu nhưng có nhược điểm như thời gian bán thải ngắn, dẫn đến việc phải duy trì nồng độ thuốc bằng cách tiêm truyền liên tục, gây ra nhiều tác dụng phụ cho bệnh nhân. Việc nghiên cứu các hệ dẫn thuốc nano nhằm kiểm soát tốc độ giải phóng dược chất là một hướng nghiên cứu để tối ưu hóa hiệu quả điều trị. Đề tài này tập trung tổng hợp hệ vật liệu nano lai ZIF-7@E4S bằng cách bao phủ lớp vỏ silica hữu cơ E4S lên khung hữu cơ kim loại ZIF-7 để cải thiện độ bền cấu trúc của vật liệu gốc trong môi trường khảo sát. Quá trình tổng hợp được thực hiện thông qua phương pháp sol-gel và khuấy từ, tạo ra các hạt nano có kích thước đồng nhất từ 100-200 nm, được chứng minh qua các phép phân tích XRD, SEM và FT-IR. Kết quả khảo sát cho thấy lớp vỏ E4S bảo vệ thành công khung ZIF-7, giúp vật liệu duy trì tính ổn định cao hơn so với dạng chưa bọc. Trong các thử nghiệm tải thuốc, ZIF-7@E4S thể hiện khả năng hấp phụ 5-FU đạt mức 140 mg/g. Khảo sát giải phóng in vitro trong các môi trường đệm mô phỏng pH 7,4 và 5,5 ghi nhận khả năng kiểm soát giải phóng kéo dài đến 48 giờ với lượng hoạt chất tích lũy đạt khoảng 78%. Những kết quả thực nghiệm bước đầu về cấu trúc, độ bền vật liệu và khả năng tải và giải phòng 5-FU khẳng định ZIF-7@E4S là một hệ vật liệu tiềm năng, tạo tiền đề cho các nghiên cứu chuyên sâu hơn về hệ thống dẫn truyền thuốc hướng đích trong tương lai. |
Đơn vị đăng tin: Trường Đại học Khoa học Sức khỏe, ĐHQG-HCM
Thời điểm: ngày 20 tháng 3 năm 2026