Lịch họp Hội đồng nghiệm thu đề tài/ đề án KH&CN cấp ĐHQG-HCM tháng 02/2026 – Trường Đại học Kinh tế – Luật
| STT | Đề tài |
| 1 | Tên đề tài: “Phát triển hệ thống mô phỏng giao dịch thuật toán phục vụ đào tạo AI trong lĩnh vực tài chính và kinh doanh” Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Lê Hoành Sử Đơn vị: Trường Đại học Kinh tế – Luật Mã số: B2024-34-04 Địa điểm: Trường Đại học Kinh tế – Luật Quyết định nghiệm thu số …../QĐ-ĐHQG ngày ….. /…../2026 của Giám đốc ĐHQG-HCM; Chủ tịch Hội đồng: Tóm tắt Đề tài Nghiên cứu này tập trung vào việc phát triển một hệ thống mô phỏng giao dịch thuật toán (Algorithmic Trading Simulation System) nhằm phục vụ công tác đào tạo trí tuệ nhân tạo (AI) trong lĩnh vực tài chính và kinh doanh. Mô phỏng giao dịch thuật toán là một công cụ mạnh mẽ giúp các nhà nghiên cứu, nhà đầu tư và các chuyên gia tài chính kiểm tra và tối ưu hóa các chiến lược giao dịch mà không phải chịu rủi ro từ việc thực hiện giao dịch thực tế. Hệ thống này không chỉ giúp đào tạo AI mà còn tạo ra một môi trường học tập tương tác, nơi người học có thể áp dụng các kỹ thuật học máy và học sâu để phát triển, kiểm thử và tối ưu hóa chiến lược giao dịch. Từ những thách thức trong việc ứng dụng AI vào tài chính, nghiên cứu này đưa ra giải pháp phát triển một hệ thống mô phỏng giao dịch thuật toán sử dụng các phương pháp học máy (machine learning) và học sâu (deep learning) để phân tích và dự đoán xu hướng thị trường tài chính. Cụ thể, nghiên cứu ứng dụng các chiến lược giao dịch như giao dịch theo đà (momentum trading) và giao dịch theo cặp (pairs trading) để xây dựng các mô hình dự đoán, mô phỏng các tình huống giao dịch và kiểm tra lại các chiến lược. Hệ thống này hỗ trợ quá trình kiểm thử chiến lược (backtesting), cho phép người sử dụng đánh giá hiệu quả của các chiến lược giao dịch trong môi trường mô phỏng trước khi triển khai trên thị trường thực tế. Nghiên cứu phát triển hệ thống mô phỏng giao dịch thuật toán tích hợp nhiều nguồn dữ liệu thực tế từ các sàn chứng khoán (HOSE, HNX), giá vàng, báo cáo tài chính và tin tức thị trường, nhằm tạo ra các chỉ báo và tín hiệu giao dịch chính xác. Hệ thống linh hoạt với các chức năng như theo dõi thị trường, mô phỏng giao dịch, backtesting và chia sẻ dữ liệu tài chính, đồng thời hỗ trợ tối ưu hóa chiến lược giao dịch qua thuật toán học máy, giúp giảm thiểu rủi ro và cải thiện hiệu quả giao dịch. Điểm đặc biệt của nghiên cứu là sự kết hợp lý thuyết và thực hành, tạo ra công cụ giảng dạy có tính ứng dụng cao. Hệ thống không chỉ phục vụ nghiên cứu mà còn hỗ trợ đào tạo, giúp người học áp dụng kiến thức vào thực tế. Nghiên cứu này không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo mà còn giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định giao dịch chính xác hơn, tối ưu hóa lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro. Hệ thống mô phỏng này mở ra cơ hội ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tài chính, góp phần phát triển ngành tài chính trong tương lai. |
| 2 | Tên đề tài: “HIỆU ỨNG CỦA TRÌNH ĐỘ CHUYÊN MÔN KỸ THUẬT LÊN VIỆC LÀM VÀ TIỀN LƯƠNG CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG TRONG MỐI QUAN HỆ VỚI CHUYỂN ĐỔI SỐ Ở VIỆT NAM” Chủ nhiệm đề tài: TS Nguyễn Thị Đông Đơn vị: Trường Đại học Kinh tế – Luật Mã số: B2023-34-03 Địa điểm: Trường Đại học Kinh tế – Luật Quyết định nghiệm thu số …../QĐ-ĐHQG ngày ….. /…../2026 của Giám đốc ĐHQG-HCM; Chủ tịch Hội đồng: Tóm tắt Đề tài Nghiên cứu này xem xét cách trình độ chuyên môn kỹ thuật (CMKT) tác động đến việc làm và thu nhập của người lao động Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số tăng tốc giai đoạn 2015–2023. Với bộ dữ liệu lớn từ Điều tra Lao động Việc làm (LFS) gồm hơn 1,5 triệu quan sát, đề tài tập trung vào ba hướng chính: xác định các yếu tố kinh tế – xã hội chi phối thu nhập, đánh giá khả năng có việc làm chính thức như một thước đo chất lượng việc làm, và phân tích vai trò của công nghệ số trong việc tạo ra sự khác biệt giữa các nhóm lao động. Các mô hình logit, 2SLS và phân rã Oaxaca – Blinder được sử dụng nhằm xử lý vấn đề nội sinh và làm rõ mức độ phân hóa ở các nhóm thu nhập khác nhau. Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ CMKT và kỹ năng số là những nhân tố quyết định đến cả thu nhập lẫn chất lượng việc làm, đặc biệt là khả năng chuyển dịch từ khu vực phi chính thức sang chính thức. Những yếu tố nhân khẩu học cũng tạo ra khác biệt đáng kể: lao động nữ vẫn có thu nhập thấp hơn nam giới, nhưng lại có khả năng duy trì việc làm và gắn bó với khu vực chính thức tốt hơn trong giai đoạn biến động. Đồng thời, khoảng cách thu nhập giữa thành thị và nông thôn không chỉ thuần túy do bằng cấp mà còn bị nới rộng bởi sự chênh lệch trong khả năng tiếp cận hạ tầng công nghệ và điều kiện sản xuất. Chuyển đổi số được ghi nhận là động lực quan trọng, nhưng hiệu quả tăng trưởng thu nhập thực tế lại phụ thuộc trực tiếp vào mức độ tương thích giữa kỹ năng cá nhân và yêu cầu công nghệ mới. Từ những phát hiện trên, nghiên cứu nhấn mạnh nhu cầu xây dựng chiến lược phát triển kỹ năng gắn với yêu cầu thực tế của doanh nghiệp, đẩy mạnh đào tạo kỹ năng số và hỗ trợ nhóm lao động yếu thế để giảm nguy cơ bị bỏ lại trong quá trình chuyển đổi số. Các giải pháp cũng hướng đến việc hoàn thiện hệ thống thông tin thị trường lao động và gắn kết chặt chẽ với các mục tiêu chiến lược quốc gia về phát triển nhân lực chất lượng cao. Mặc dù còn những hạn chế nhất định về tính đồng nhất của dữ liệu qua các năm kết quả nghiên cứu vẫn cung cấp nền tảng đáng tin cậy cho các phân tích dài hạn về mối quan hệ giữa trình độ chuyên môn, chuyển đổi số và việc làm, tiền lương của người lao động trong giai đoạn tới. |
| 2 | Tên đề tài: “Pháp luật điều chỉnh mô hình kinh doanh số: trường hợp của Việt Nam” Chủ nhiệm đề tài: TS Trương Trọng Hiểu Đơn vị: Trường Đại học Kinh tế – Luật Mã số: C2023-34-04 Địa điểm: Trường Đại học Kinh tế – Luật Quyết định nghiệm thu số …../QĐ-ĐHQG ngày ….. /…../2026 của Giám đốc ĐHQG-HCM; Chủ tịch Hội đồng: Tóm tắt Đề tài Kinh tế số bùng phát ở Việt Nam khá nhanh, đặc biệt là sau đại dịch Covid19. Các nghiên cứu về kinh tế số vì vậy cũng lần lượt được triển khai, cả ở trong nước và trên bình diện quốc tế. Sau khi được ghi nhận và trao giải Nobel kinh tế năm 2014, các nghiên cứu của Jean Tirole về sức mạnh thị trường trong các mô hình kinh doanh mới được tiếp cận nhiều hơn. Tuy nhiên, tại Việt Nam, các phân tích về mô hình kinh doanh số hay còn gọi là kinh doanh nền tảng còn khá khiêm tốn, thậm chí là khá hiếm hoi. Một số nghiên cứu trong nước tiếp cận trên nền tảng tư duy pháp lý cũ, vì vậy chưa thể giải quyết được hết các khía cạnh pháp lý mới trong môi trường số. Nhiều phân tích chỉ hướng đến việc xác định ý nghĩa của việc tích hợp khai thác và sử dụng công nghệ vào kinh doanh và trong chừng mực nào đó đã đánh đồng mô hình kinh doanh số với hoạt động thương mại điện tử đơn thuần Trong khi, kinh tế và kinh doanh số ngày càng phổ biến và thịnh hành. Sự phát triển thần tốc của kinh tế số và các mô hình kinh doanh mới đặt ra nhiều vấn đề pháp lý mới, cần có cách tư duy và tiếp cận mới. Việt Nam trên thực tế cũng đã có nhiều cải cách, xây dựng và sandbox nhiều thể chế pháp lý mới nhưng vẫn chưa thật sự phản ánh được nhu cầu và vì vậy chưa thể điều chỉnh phù hợp, hiệu quả các hoạt động kinh tế, kinh doanh mới. Điều đáng nói là, sau một thời gian thử nghiệm tiếp nhận các dạng thức kinh doanh mới, quy định pháp luật của Việt Nam gần như trở lại với cách thức tiếp cận cũ. Thực tế này có tác động rất lớn, đặc biệt là các lợi thế của mô hình kinh doanh mới không còn cơ hội để phát huy lợi thế của mình. Việc nhận diện và đánh giá sức mạnh thị trường của doanh nghiệp cũng chưa được nhìn nhận một cách chuẩn xác, thậm chí có những đánh giá sai lệch. Pháp luật về kiểm soát sức mạnh thị trường vì vậy sẽ khó phát huy được hiệu quả nếu mô thức điều chỉnh hiện tại tiếp tục được duy trì. Nghiên cứu đã tiếp cận từ khía cạnh lý luận lẫn thực tiễn của mô hình kinh doanh số. Đề tài phân tích tầm quan trọng của công nghệ và kinh tế số để từ đó xác định các mô hình kinh doanh số. Kết quả nghiên cứu tiếp tục khẳng định vai trò của công nghệ số và bổ sung nhiều lập luận và phân tích về đặc trưng và lợi thế của mô hình kinh doanh số. Kết quả nghiên cứu xem đó là yếu tố quyết định thành công của mô hình kinh doanh, thông qua phân tích trường hợp thành công và thất bại về hoạt động kinh doanh bằng mô hình kinh doanh số. Từ kết quả phân tích đó, báo cáo đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam và đưa ra các kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam, gồm quy định về mô hình kinh doanh, kiểm soát sức mạnh thị trường lẫn vấn đề bảo vệ dữ liệu người dùng. |
| 3 | Tên đề tài: “Đánh giá nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực ngành Quản lý công trên địa bàn Thành phố Hổ Chí Minh” Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS Trần Văn Trung Đơn vị: Trường Đại học Kinh tế – Luật Mã số: C2023-46-01 Địa điểm: Trường Đại học Kinh tế – Luật Quyết định nghiệm thu số …../QĐ-ĐHQG ngày ….. /…../2026 của Giám đốc ĐHQG-HCM; Chủ tịch Hội đồng: Tóm tắt Đề tài Nguồn nhân lực ngành Quản lý công là một bộ phận quan trọng trong nguồn nhân lực khu vực công. Là nguồn nhân lực được đào tạo chuyên ngành chuyên sâu về khối kiến thức kỹ năng phục vụ cho các cơ quan Nhà nước. Ngành Quản lý công cũng như nguồn nhân lực ngành Quản lý công là một trong những khái niệm và ngành mới ở Việt Nam. Hiện nay, ngành Quản lý công đã được công nhận là một ngành trong hệ thống ngành nghề nói chung và hệ thống mã ngành đào tạo trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Đến nay, trong cả nước mới có 8 cơ sở đào tạo ngành Quản lý công cho cả trình độ cử nhân và thạc sĩ, tiến sĩ. Mỗi năm có khoảng 1000 cử nhân được đào tạo trong các cơ sở giáo dục. Số lượng sinh viên và học viên tốt nghiệp ra trường còn rất ít, mới đáp ứng được khoảng 3,8% nhu cầu tuyển dụng ngành này. Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương lớn nhất cả nước cả về diện tích, số cơ quan Nhà nước và lực lượng lao động. Nhu cầu tuyển dụng nhân lực nói chung và nhân lực ngành Quản lý công là rất lớn. Để giúp Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng và các địa phương, ngành trong cả nước nói chung về tuyển dụng, sử dụng nguồn nhân lực ngành Quản lý công hiệu quả, đồng thời giúp các cơ sở giáo dục có cơ sở tuyển sinh, đào tạo về nguồn nhân lực ngành Quản lý công hiệu quả, nhóm nghiên cứu Trường Đại học Kinh tế -Luật, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh tiếp cận nghiên cứu đề tài này với mục đích tăng cường xây dựng và hoàn thiện lý luận về Nguồn nhân lực ngành Quản lý công đồng thời giải quyết đầu ra cho sinh viên ngành và đáp ứng nhu cầu liên kết giữa nhà trường và địa phương. Mục tiêu chính của đề tài là qua nghiên cứu đề xuất được các giải pháp tuyển dụng, sử dụng nguồn nhân lực Quản lý cho các địa phương, đồng thời xây dựng, điều chỉnh chương trình đào tạo ngành Quản lý công chất lượng, thiết thực, hiệu quả . |
Trường Đại học Kinh tế- Luật, ĐHQG-HCM